Lưu ý khi xuất khẩu thực phẩm sang Mỹ

Thông thường, khi hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ, Cục Hải quan và Bảo vệ biên giới Mỹ (CBP), thuộc Bộ An ninh quốc gia (DHS), sẽ tiến hành những thủ tục kiểm tra đầu tiên. Sau đó, tùy vào loại hàng hóa mà sẽ qua sự kiểm định của các cơ quan khác: FDA chịu trách nhiệm về các loại thực phẩm, trừ thịt và gia cầm; FSIS kiểm tra hoặc chứng nhận thịt, gia cầm và một số sản phẩm từ trứng. FDA thường “bắt bí” ở những lỗi về tiêu chuẩn chất lượng, độ tinh sạch của thực phẩm; các vi phạm về luật khủng bố sinh học, luật ghi nhãn hàng, số đăng ký FCE/SID.

Luật khủng bố sinh học

Luật Khủng bố sinh học (Bioterrorism Act) của Mỹ quy định các doanh nghiệp Mỹ và nước ngoài phải đăng ký với FDA nếu sản xuất, chế biến, đóng gói và lưu trữ thực phẩm, thức uống với mục đích tiêu thụ tại Mỹ. Tuy nhiên, doanh nghiệp không phải đăng ký chứng nhận sản phẩm cụ thể mà chỉ cần đăng ký địa điểm sản xuất, chế biến, đóng gói hay bảo quản thực phẩm và đồ uống. Sau khi hoàn tất đăng ký, FDA sẽ cấp một mã chứng nhận gồm 11 chữ số. Đối với các nhà máy sản xuất hoạt động ngoài nước Mỹ, FDA buộc doanh nghiệp phải đăng ký và chỉ định một đại diện tại Mỹ. Đại diện này phải có địa chỉ cụ thể tại Mỹ để giữ liên lạc giữa FDA và doanh nghiệp hoạt động ngoài nước Mỹ, nhất là trong trường hợp thực phẩm xuất khẩu có vấn đề về chất lượng hay vi phạm luật khủng bố sinh học. Do vậy, đại diện này phải hết sức am tường các quy định lắt léo của FDA.

Cũng theo luật này, doanh nghiệp phải trình “Thông báo trước” (Prior Notice) cho FDA và CBP trước khi đưa thực phẩm, thức uống vào Mỹ. Mục đích của tờ thông báo này là xác nhận với FDA các mã chứng nhận cho từng sản phẩm đã được cơ quan này cấp. Tuy nhiên, trình “Thông báo trước” không có nghĩa là đã được FDA chấp thuận cho nhập hàng vào Mỹ, hoặc không bị kiểm tra hàng. Quy định trình “Thông báo trước” được áp dụng cho các phương thức chuyển hàng, bao gồm cả việc gửi mẫu với mục đích triển lãm, khách hàng duyệt mẫu hay phân tích mẫu, và áp dụng cho các lô hàng quá cảnh ở Mỹ để đến một nước thứ ba. Tùy vào phương thức chuyển hàng mà thời điểm trình thông báo sẽ khác nhau: bốn tiếng trước khi hàng cập cảng nếu vận chuyển bằng đường hàng không; trước tám tiếng nếu là đường biển; và nếu vận chuyển bằng bưu cục hoặc phát chuyển nhanh thì phải trình thông báo trước khi vận chuyển hàng…

Luật ghi nhãn thực phẩm

Gần đây, một số sản phẩm của Việt Nam như bột gia vị, trà hương lài, nước uống tăng lực, bún chay khô… khi xuất sang Mỹ đã bị hải quan giữ lại vì vi phạm luật ghi nhãn sản phẩm. Ở Mỹ, việc ghi nhãn được phân biệt rõ cho sản phẩm bán sỉ hay bán lẻ. Nhãn hàng bán sỉ nói chung đơn giản hơn vì luật ngầm hiểu rằng sẽ có các đại lý cấp dưới ghi thêm nhãn hàng, hoặc sản phẩm đã bán sỉ thì không bán lẻ. Vì thế, nhãn bán sỉ chỉ yêu cầu một vài thông tin (bằng tiếng Anh) trên bao bì như tên thường gọi của sản phẩm; tên gọi bằng tiếng Latinh nếu có; trọng lượng thuần/có bao bì; xuất xứ hàng hóa; tên/địa chỉ của nhà sản xuất; số lô hàng.

Nhãn bán lẻ gồm hai phần: bảng hiển thị chính và bảng thông tin. Bảng hiển thị chính được đặt ở mặt trước của bao bì sản phẩm, để người tiêu dùng nhìn thấy ngay khi mua hàng. Hai phần không thể thiếu ở bảng này là tên gọi và trọng lượng thuần của thực phẩm. Bảng thông tin được đặt ở bên phải bảng hiển thị chính, gồm thông tin dinh dưỡng, các chất thành phần và nhà sản xuất. Thông tin dinh dưỡng phải được trình bày dưới dạng bảng biểu. Phần liệt kê các chất thành phần phải được đặt ngay cạnh đó, với kích cỡ tối thiểu bằng 1/16 inch (0,16 cen ti mét). Các chất thành phần được liệt kê theo trọng lượng giảm dần. Ngay sau các chất thành phần là “nhân dạng” của nhà sản xuất – tên công ty, địa chỉ hoạt động, tên thành phố, quốc gia – kích cỡ tối thiểu cũng bằng 1/16 inch. Nếu không phải là nhà sản xuất trực tiếp, phần này phải ghi rõ “sản xuất theo…” hoặc “được phân phối bởi…”.

Liên quan đến các chất gây dị ứng, FDA cũng liệt kê tám loại thực phẩm hoặc nhóm thực phẩm chính gây nên 90% các chứng dị ứng thức ăn ở Mỹ, gồm sữa, trứng, cá, tôm, cua, đậu phộng, lúa mì, đậu nành… Vì thế, Luật Bảo vệ người tiêu dùng và Ghi nhãn thực phẩm có chất gây dị ứng năm 2004 ở Mỹ quy định, nếu sản phẩm thực phẩm có chứa chất gây dị ứng, doanh nghiệp phải công bố ngay dưới danh sách các chất thành phần – chẳng hạn, “Có chứa trứng, lúa mì…” –  hoặc công bố trong danh sách các chất thành phần bằng cách nêu tên thông thường của nguồn chất gây dị ứng – chẳng hạn, “Bột mì (làm từ lúa mì)”.

Số đăng ký FCE/SID

FDA cũng quy định các công ty chế biến, sản xuất thực phẩm đóng hộp vô trùng, thực phẩm có hạn sử dụng dài hay thực phẩm có tính axít phải có số đăng ký FCE (Food Canning Establishment) trước khi bán hàng sang Mỹ. Đây là việc đăng ký địa chỉ cụ thể của nơi sản xuất thực phẩm và thông thường, quá trình này phải mất 3-5 tuần. Số đăng ký FCE được cấp sẽ gồm năm chữ số, chẳng hạn FCE # 18289, và mỗi nhà máy sản xuất chỉ được cấp một số. Tuy nhiên, đăng ký FCE sẽ không có tác dụng nếu như các công ty chế biến, sản xuất thực phẩm đóng hộp không đăng ký bảng số liệu của từng quy trình sản xuất thực phẩm. Mỗi quy trình này sẽ được cấp một số đăng ký SID (Submission Identifier) và khi xuất hàng vào Mỹ, nếu từng sản phẩm của doanh nghiệp không có số đăng ký SID thì hàng sẽ bị giam lại. Thời gian từ lúc đăng ký đến khi được cấp số SID có thể đến 12 tuần. Một số sản phẩm của Việt Nam gần đây đã bị FDA giam lại vì thiếu đăng ký FCE/SID như nấm đóng hộp, kim chi, nước mắm, tỏi ngâm giấm, mắm tôm…

UMCO VIỆT NAM luôn sẵn lòng phục vụ quý khách hàng 24/7. Hãy liên hệ cho chúng tôi bất cứ khi nào bạn cần. Email: info@umcovietnam.com

Liên hệ tư vấn ngay

Đồng hành cùng doanh nghiệp